ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP THIẾT KẾ XÂY DỰNG BỆNH VIỆN PHỤ SẢN THỦ THIÊM

MÃ TÀI LIỆU 301400500012
NGUỒN huongdandoan.com
MÔ TẢ 100 MB Bao gồm tất cả file........ , file thuyết minh, hình ảnh...Ngoài ra còn cung cấp thêm nhiều tài liệu liên quan tham khảo của đồ án này....
GIÁ 500,000 VNĐ
ĐÁNH GIÁ 4.9 20/11/2019
9 10 5 18590 17500
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP THIẾT KẾ XÂY DỰNG BỆNH VIỆN PHỤ SẢN THỦ THIÊM Reviewed by admin@doantotnghiep.vn on . Very good! Very good! Rating: 5

ĐỒ ÁN THIẾT KẾ XÂY DỰNG, ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP THIẾT KẾ XÂY DỰNG, ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP THIẾT KẾ XÂY DỰNG BỆNH VIỆN PHỤ SẢN THỦ THIÊM

PHẦN I : KIẾN TRÚC

A>Những hiểu biết về thể loại đề tài

I-Một số quan niệm chung về thể loại đề tài:

1>Thể loại công trình bệnh viện:

- Một cách đơn giản, bệnh viện là nơi thực hiện việc khám, chẩn đoán, điều trị, chữa bệnh cũng như nghiên cứu, giảng dạy phương pháp chữa bệnh cho con người.(BVĐK-TS  KTS Trần Văn Khải).

- Bệnh viện thuộc loại công trình kiến trúc chịu ảnh hưởng rất nhiều từ sự phát triển của khoa học công nghệ, mà cụ thể là y học và trang thiết bị y tế. Các phương pháp chữa bệnh mới cũng như các căn bệnh mới của con người xuất hiện không ngừng đòi hỏi bệnh viện phải có sự biến đổi đa dạng tương xứng. Ngoài ra các trường phái y khoa khác nhau cũng dẫn tới các quan niệm khác nhau về tổ chức không gian bệnh viện. Vì vậy những quan niệm về kiến trúc bệnh viện cũng thay đổi rất nhanh.

-Tại các nước tiên tiến trên thế giới, mức sống của người dân được đánh giá một phần dựa vào tỷ lệ y bác sĩ và trình độ y học. Một nước được gọi là giàu mạnh phát triển thì y tế phải phát triển. Hiện tại dân số nước ta tăng khá nhanh (cả tăng tự nhiên lẫn cơ học) trong khi các cơ sở y tế, thiết bị còn lạc hậu. Nhằm đáp ứng phần nào nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân, nhà nước ta đã có kế hoạch xây dựng hệ thống các bệnh viện với trang thiết bị hiện đại và đội ngũ y bác sĩ có chuyên môn

             2>Bệnh viện phụ sản:

-Bệnh viện phụ sản là một trong các thể loại bệnh viện chuyên khoa.

- Cụ thể:

+Thứ nhất, tỉ lệ phụ nữ nước ta chiếm khoảng 50% dân số, trong đó phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ (16–50 tuổi) chiếm tỉ lệ khá lớn => Nhu cầu về khám thai định kỳ (tối thiểu là 4 lần) và được hỗ trợ, chăm sóc trong giai đoạn sinh nở là rất lớn. Đó là đối với các trường hợp thai nghén bình thường, còn đối với trường hợp thai kỳ bệnh lý như thai độc, băng huyết áp thai kỳ, tiểu đường thai kỳ, thai trứng, thai ngoài tử cung… đòi hỏi phải được nhập viện và điều trị tại các cơ sở y tế chuyên sâu (đó là các bệnh viện chuyên khoa về sản).

+Thứ hai, phụ nữ ở mọi lứa tuổi đều có khả năng mắc một số bệnh phụ khoa như viêm nhiễm phụ khoa, các bệnh như ung bứu buồng trứng, ung bứu ở các cơ quan sinh sản… Hiện nay tại các bệnh viện chuyên khoa sản thì số phòng khám và chữa bệnh phụ khoa chiếm ¾ tổng số phòng.

+Thứ ba, theo thống kê trong cả nước ta, cứ 13 triệu cặp vợ chồng thì có khoảng 1,2 triệu cặp vợ chồng vô sinh. Việc điều trị bệnh vô sinh đòi hỏi phải được tiến hành tại những bệnh viện thuộc tuyến trung ương có trình độ y khoa cao.

+Ngoài ra, đa số các bênh viện phụ sản hiện nay đã đảm nhiệm cả phần tư vấn và thực hiện công tác kế hoạch hóa gia đình, cũng như công tác đào tạo cán bộ y tế chuyên về phụ sản.

 

II-Quá trình hình thành và phát triển bệnh viện phụ sản:

- Việc có mang hay sinh nở đều không phải là bệnh tật mà là các mặt trong cơ chế tái sản xuất của động vật có vú. Phụ nữ đã sinh con từ rất lâu trước khi xuất hiện những thể loại công trình đặc biệt như “bệnh viện phụ sản” để chăm sóc họ.

- Trước thế kỉ 20, các bệnh viện chỉ quan tâm đến việc giải thoát linh hồn hơn là làm bớt đi sự đau đớn về thể xác cho bệnh nhân, họ chưa thực sự có phương pháp điều trị khoa học. Thời kỳ Thập tự chinh, bệnh nhân được phân theo loại bệnh, ở trong các phòng nhỏ nhìn ra hàng hiên hoặc tập hợp xung quanh một hồ nước có vòi phun ở trung tâm. Lúc bấy giờ, kỹ thuật y học gần như không tồn tại.

- Vào thời kì này, phụ nữ rất hiếm khi sinh con tại các bệnh viện bởi đấy là một nơi rất đáng sợ. Những nơi ấy gây ra “căn dịch bệnh” khiến tỉ lệ tử vong của sản phụ và trẻ sơ sinh tăng cao đều đặn mỗi năm. Mỗi một người phụ nữ bình thường khi bước vào nhà bảo sanh đều trẻ và khỏe mạnh. Việc quyết định sinh con tại bệnh viện đã đưa họ tới nguy cơ tử vong cao gấp mấy lần việc sinh con tại nhà. Như vậy, họ đã có thể không chết nếu sinh con tại nhà, dù nơi đó chỉ là một căn lều tồi tàn và chỉ với sự giúp đỡ của người nhà hay bà đỡ không qua đào tạo. Tóm lại, vào thời điểm đó, một người phụ nữ thông thường sẽ không chọn sinh con trong bệnh viện phụ sản, họ chỉ bị buộc phải đến đó bởi những người thân bần cùng và muốn thoát khỏi trách nhiệm chăm sóc họ.

- Trong nửa đầu thế kỉ 19, nhờ những phát minh về hóa học và vật lý, ngành y có những bước phát triển mới, cùng với sự thay đổi những khái niệm cơ bản về bệnh viện. Các bác sĩ tìm cách giải thích nguyên nhân số lượng sản phụ tử vong khi sinh trong các bệnh viện cao gấp mấy lần sinh tại nhà. Có người cho rằng đó là do không khí bẩn, còn các bác sĩ Oliver Wendell Holmes, Ignaz Semmelweis thì khẳng định là do “những bàn tay bẩn” của bác sĩ. Semmelweis còn chứng minh quan điểm của mình bằng cách kêu gọi các bác sĩ và sinh viên rửa tay bằng nước vôi khử trùng clo trước khi khám cho bệnh nhân. Kết quả là từ tháng 3 đến tháng 8 năm 1848, không có một phụ nữ nào chết khi sinh con.

- Sau 1850, những công trình nghiên cứu của Pasteur đã phát hiện nguồn gốc của vi trùng, nguyên nhân gây nhiễm trùng trong bệnh viện. Kết quả này đã đánh dấu hình thức bệnh viện có nhiều trại. Thời kỳ này bắt đầu hình thức hoạt động mới, đó là tiếp nhận bệnh nhân điều trị có trả viện phí. Bệnh viện phụ sản trở thành một trung tâm kỹ thuật và khoa học dành cho việc chăm sóc sức khoẻ sinh sản.

- Ngày nay, sự phát triển của khoa học kỹ thuật luôn hướng đến mục tiêu là mang lại tiện nghi ngày càng tốt hơn cho bệnh nhân và nhân viên y tế. Bệnh viện phụ sản cũng không nằm ngoài xu thế đó, bệnh viện không chỉ chú trọng việc chăm sóc sức khỏe sản phụ và trẻ sơ sinh mà còn mang lại những tiện nghi tốt nhất đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người.

III-Một số bệnh viện phụ sản tại TP.HCM:

¨Bệnh viện phụ sản Hùng Vương: nằm ở 128 đường Hùng Vương P.12 Q.5. Bệnh viện gồm có 465 giường nội trú, 200 giường ngoại trú và 50 ca sanh mỗi ngày. Tuy nhiên mới xây không lâu nhưng dây chuyền không phù hợp với chức năng bệnh viện phụ sản.

¨Bệnh viện phụ sản Từ Dũ: nằm ở 284 Cống Quỳnh P.Ngũ Lão Q.1. Bệnh viện gồm có 1196 giường/910 giường và 100 ca sanh mỗi ngày. Tình trạng quá tải đến mức báo động, việc xây dựng mở rộng bệnh viện nhằm giải quyết bài toán quá tải đã gây ra tình trạng bố cục lộn xộn, không đảm bảo dây chuyền công năng, không thể phục vụ tốt nhất cho bệnh nhân.

¨Bệnh viện phụ sản quốc tế Sài Gòn: nằm trên đường Tôn Thất Tùng Q.1. Đây là bệnh viện tư nhân, hoạt động từ 04/12/2000 với 118 giường, là một mô hình mới đáp ứng các nhu cầu cao của bệnh nhân theo tiêu chuẩn quốc tế.

Các bệnh viện đang trong tình trạng quá tải, thiếu cây xanh, mật độ phân bố không đều, phạm vi phục vụ bị hạn chế, và cần được bổ sung nhằm phục vụ nhu cầu nâng cao chất lượng cuộc sống cho phụ nữ & trẻ em….

IV-Yêu cầu đặt ra đối với bệnh viện phụ sản:

1>Yêu cầu đối với vị trí xây dựng:

 Bệnh viện phải nằm ở vị trí hợp lý nhất trong quy hoạch tổng thể của thành phố, đảm bảo:

-Thuận lợi cho việc lui tới của người dân trong phạm vi phục vụ.

-Thuận lợi cho việc liên hệ chuyên môn với các cơ quan chỉ đạo, trạm phòng dịch, chuyên khoa địa phương và thành phố.

-Đáp ứng yêu cầu vệ sinh phòng bệnh, không gây ô nhiễm các khu dân cư, không nằm đầu hướng gió chính hay đầu nguồn nước đối với khu dân cư, có đủ khoảng cách ly cần thiết đối với khu dân cư.

-Thông thoáng, cao ráo, có điều kiện và khả năng phòng cháy chữa cháy tốt.

-Xa khu vực sản xuất.

-Có hệ thống cơ sở hạ tầng tốt (hệ thống điện, nước, thông tin liên lạc, đường xá…).

2>Yêu cầu về tổ chức không gian bên trong bệnh viện cần:

-Mật độ xây dựng không quá 30%-35%.

-Giải quyết tốt phân khu chức năng và dây chuyền khám chữa bệnh. Giao thông ngắn, thuận tiện,    hợp lý, không bị chồng chéo.

-Bảo đảm vấn đề vô trùng, nhất là đối với khu mổ. Điều kiện vệ sinh và phòng bệnh tốt nhất cho khu chữa bệnh nội trú.

-Thông thoáng, chiếu sáng tự nhiên tối đa và tránh hướng xấu cho các phòng nội trú.

-Tạo được các không gian đẹp, thoải mái trong nội thất cũng như ngoại thất, sân vườn . Có những khoảng cây xanh cần thiết cho công trình nhằm tạo không gian thư giãn và đi dạo trong bệnh viện.

-Hình thức kiến trúc nhẹ nhàng, không gây tâm lý nặng nề, cảm giác ngột ngạt cho bệnh nhân, tạo cảm gic gần gũi, thoải mái.

B>Lý do chọn đề tài và hướng nghiên cứu chính

I-Lý do chọn đề tài:

1>Tỉ lệ tử vong cao của bà mẹ và trẻ sơ sinhà định hướng phát triển của nhà nước:

¨Theo thống kê trên thế giới về sức khỏe sinh sản:

- Mỗi năm, 60 triệu phụ nữ sinh con tại nhà mà không có sự giúp đỡ của các chuyên gia về sinh sản.

- Mỗi phút có 1 phụ nữ chết trong quá trình mang thai hoặc sinh con, có 7 trẻ sơ sinh chết trước khi đầy tháng và 20 đứa trẻ chết trước 5 tuổi.

- Tỉ lệ tử vong của trẻ sơ sinh chiếm 40% tỉ lệ tử vong trẻ dưới 5 tuổi.

- 4 triệu trẻ sơ sinh chết mỗi năm-phần lớn do thiếu sự chăm sóc và ngăn ngừa cẩn thận, dẫn đến sự  lây nhiễm, sinh khó và cân thiếu.

- Gần 60% trẻ sơ sinh tử vong trong tháng đầu đời. Trong số đó, hơn ¾ (3 triệu mỗi năm) tử vong trong tuần đầu và ½ (2 triệu mỗi năm) tử vong trong 24h đầu.

- Hầu như toàn bộ số trẻ sơ sinh và sản phụ tử vong (khoảng 98-99%) đều từ các nước đang phát triển, nơi mà thai phụ và trẻ sơ sinh thiếu mất những dịch vụ chăm sóc sức khỏe cơ bản trong suốt quá trình mang thai và sinh sản.

            ¨May mắn thay, Việt Nam không nằm trong số 10 quốc gia có tỉ lệ tử vong trẻ sơ sinh cao nhất thế giới. Tại Việt Nam, 86% thai phụ được chăm sóc tiền sản, 91% được tiêm vắc-xin ngừa uốn ván, 85% ca sinh có sự tham gia của những người được đào tạo, tỉ lệ sinh con ở tuổi vị thành niên khá thấp. Tuy nhiên, ở Việt Nam mỗi năm vẫn có khoảng 30 000 trẻ sơ sinh tử vong (cứ 1000 trẻ thì có12 trẻ sơ sinh tử vong). Tỉ lệ ny vẫn cao so với các nước phát triển. Những năm gần đây, nhà nước ta đã có nhiều biện pháp để làm giảm tỉ lệ tử vong của trẻ sơ sinh và sản phụ như ban hành nhiều chính sách và luật nhằm nâng cao ý thức người dân về sức khỏe sinh sản, đặc biệt là việc tăng cường xây dựng, cải tạo, nâng cao chất lượng các cơ sở y tế sinh sản, trong đó bệnh viện phụ sản là một trong những hướng phát triển chính cần đầu tư.

            ¨Khu Trung Tâm Y Tế Kĩ Thuật Cao - Bình Tân, thuộc huyện Bình Chánh (theo qui hoạch sử dụng đất thành phố năm 2020) ở phía Tây Nam thành phố là một trong những hướng đầu tư quan trọng cho ngành y tế mà nhà nước và người dân đang hết sức quan tâm. Bên cạnh việc xây dựng các bệnh viện đa khoa và chuyên khoa khác, việc đầu tư xây dựng bệnh viện phụ sản tại đây là hoàn toàn hợp lí và thiết yếu.

 

2>Tình trạng xuống cấp và lạc hậu của các bệnh viện phụ sản tại TP.HCM:

- Đa phần các bệnh viện phụ sản ở TP.HCM đã được xây dựng từ quá lâu. Chính vì thế, phần lớn  các bệnh viện đã xuống cấp, không còn phù hợp với yêu cầu và mức sống của người dân hiện nay, không gian kiến trúc không còn phù hợp với các thiết bị y khoa hiện đại.

- Cây xanh thiếu trầm trọng, công trình xây gần đường xe lưu thông nên chịu ảnh hưởng môi trường ô nhiễm rất nặng như ồn ào, khói bụi . . . và mùi sát trùng nồng nặc gây ảnh hưởng không tốt đến tâm lý và sức khoẻ cho bệnh nhân.

- Do bố cục phân tán nên hệ thống giao thông kéo dài gây khó khăn trong phối hợp điều trị và khó trang bị hệ thống kỹ thuật hiện đại như: hệ thống khí y tế, hệ thống nước vô khuẩn, hệ thống thông tin liên lạc, báo cháy, hệ thống điều hoà trung tâm . . .

- Sự thiếu quan tâm về thiết kế kiến trúc chưa đáp ứng được nhu cầu của bệnh nhân. Không gian phòng nội trú chật hẹp, bố trí nhiều giường trong một phòng, màu trắng đặc trưng của bệnh viện gây cảm giác trống vắng, sợ hãi. Bên cạnh đó, bệnh viện còn thiếu các không gian giải trí, thư giãn dành cho bệnh nhân.

 

 

3>Bài toán quá tải của các bệnh viện phụ sản tại TP.HCM:

- Theo thống kê thì cứ 1 phụ nữ bước ra tuổi sinh đẻ thì có 3 phụ nữ bước vào độ tuổi sinh đẻ. Trong số đó sẽ có 15% sản phụ được chỉ định để mổ lấy thai nhi (tỉ lệ này tại TP.HCM là 40%).

- Hiện nay, tại thành phố Hồ Chí Minh, bình quân mỗi ngày có 249 trẻ ra đời. Riêng tại bệnh viện Từ Dũ là 100 trẻ và bệnh viện Hùng Vương là 50 trẻ.        

- Tỷ lệ sinh con thứ 3 tăng cao (đây là một trong những nguyên nhân gây ra sự quá tải). Ở bệnh viện Từ Dũ, một phòng bệnh được tăng cường đến 7 giường nhưng vẫn không đủ chỗ. Các thai phụ phải bắt thêm giường bố trí ngay lối đi để lấy chỗ nằm khiến 2 hành lang không còn chỗ trống…

- Ngoài ra, do đặc điểm của người Việt Nam là thân nhân luôn có nhu cầu ở lại chăm sóc cho bệnh nhân. Họ thường nằm ngồi, ăn uống, ngủ dọc hành lang...gây cảnh mất trật tự, thiếu thẩm mĩ.

- Tỷ lệ phụ nữ mắc bệnh phụ khoa cần được khám và điều trị ngày một cao. Theo tin từ sở y tế (12-2004), hiện nay vẫn chưa có một nghiên cứu qui mô nào trên toàn quốc về tình hình mắc bệnh phụ khoa tại Việt Nam cũng như tại TP.Hồ Chí Minh được công bố đầy đủ nhưng dựa theo số liệu thống kê tại bệnh viện phụ sản Hùng Vương thì trong vòng 5 năm trở lại đây, trung bình mỗi năm có 13.000 phụ nữ đi khám tại bệnh viện. Nếu cộng thêm con số thống kê của bệnh viện Từ Dũ, bệnh viện phụ sản Sài Gòn…thì con số này quả là không nhỏ.

ÄTóm lại, bệnh viện phụ sản được xây dựng với mong ước giảm bớt các bệnh ở phụ nữ và trẻ sơ sinh, đồng thời cũng đẩy mạnh hơn nữa cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch, chăm sóc sức khỏe sinh sản cho bà mẹ và sự an toàn cho trẻ. Vì khi một đứa trẻ ra đời khỏe mạnh là hạnh phúc cho gia đình và xã hội. Ngược lại, nếu đứa trẻ đó chết đi hoặc bệnh tật thì không những làm đau lòng người thân mà còn trở thành gánh nặng cho xã hội.

ÄNgoài ra, việc xây dựng bệnh viện chuyên khoa sản phù hợp với sự phát triển của khoa học kỹ thuật hiện đại, cũng như đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người, nhằm giải quyết các vấn đề kịp thời và đồng nhất là cần thiết.

 

II-Hướng nghiên cứu chính:

1>Định hướng chung: xây dựng một bệnh viện phụ sản nhằm mang lại những tiện nghi tốt nhất theo xu hướng mới trên thế giới dựa trên các yếu tố sau:

¨Hình khối hiện đại nhưng không áp chế, hoà nhập với cảnh quan xung quanh. Vật liệu và màu sắc nhẹ nhàng, hài hòa.

¨Không gian thân thiện, biến đổi đa dạng, tạo một môi trường tốt, thoáng mát, cho bệnh nhân cảm giác dễ chịu, sạch sẽ. Sử dụng những yếu tố như màu sắc nhẹ nhàng, yếu tố thiên nhiên, các khu vực phục vụ đa dạng nhu cầu của bệnh nhân và thân nhân (giải trí, căn tin, điện thoại công cộng, máy bán hàng tự động…)

¨Đặc biệt, nghiên cứu đưa vào khoa hiếm muộn nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của những bệnh nhân hiếm muộn (khoa này hiện vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu và phát triển bởi các bệnh viện phụ sản lớn như bệnh viện Từ Dũ). Tổ chức khoa hiếm muộn với đầy đủ các phòng ban cần thiết, có phòng xét nghiệm, phòng thụ tinh trong ống nghiệm riêng biệt, có phòng tư vấn cho các đối tượng điều trị. Khoa được bố trí ở vị trí khá tế nhị, lối vào thuận tiện mà vẫn đảm bảo riêng tư.

2>Chú trọng nghiên cứu khu nội trú: Phòng nội trú ngoài việc trang bị các tiện nghi cao, hiện đại, vệ sinh bên trong phòng...còn chú trọng phát triển loại phòng đa dạng, phục vụ cho nhiều đối tượng với nhiều nhu cầu khác nhau:

¨Thai phụ dưỡng thai, các bệnh nhân khoa phụ cần không gian yên tĩnh tuyệt đối, phòng mở ra khung cảnh thiên nhiên, tránh sự quấy rầy bởi các yếu tố bên ngoài. Ngoài ra, phòng dành cho các đối tượng này có thể được đầu tư ở mức độ cao, tiện nghi hiện đại, các phương tiện giải trí đa dạng, nội thất nhẹ nhàng, đạt mỹ quan cao (tùy theo đối tượng, nhu cầu…). “Phương pháp điều trị toàn diện” này (kết hợp giữa điều trị bằng y học với điều trị bằng tâm lý) giúp bệnh nhân khi điều trị cảm thấy mọi vật xung quanh đều gần gũi và thoải mái như ở nhà.


C>Những tài liệu, số liệu làm cơ sở
để xác định quy mô công trình

I-Vị trí xây dựng:

1>Vị trí địa lý tư nhiên:

Khu đất xây dựng nằm trong Khu Đô thị mới Thủ Thiêm.

-Khu đất có 4 mặt, trong đó có mặt hướng Tây Bắc có view nhìn ra khu vực cảnh quan cây xanh, sông ngòi, 3 mặt còn lại tiếp giáp đường,Đường hướng Đông Bắc có chiều rộng đường 26m, những mặt đường còn lại tiếp giáp khu đất có chiều rộng 9,5m, đều có tầm nhìn hướng ra khu vực cây xanh, sông nước. 

-Mật độ xây dựng: 30% -35%

      -Diện tích chiếm đất: 0.9 - 1.1 ha

        2>Diện tích khu đất: 3.18 haàthích hợp xây dựng bệnh viện có quy mô từ 150-400 giường (tiêu chuẩn 90m2/giường)

 

       3>Kích thước, hình thù khu đất:

      -Khu đất có 5 mặt, trong đó có mặt hướng Tây Bắc tiếp giáp khu đất Công Cộng lân can, 4 mặt còn lại tiếp giáp đường,Đường hướng Đông Bắc có chiều rộng đường 26m, những mặt đường còn lại tiếp giáp khu đất có chiều rộng 9,5m, đều có tầm nhìn hướng ra khu vực cây xanh, sông nước. 

-Mật độ xây dựng: 30% -35%

      -Diện tích chiếm đất: 0.9 - 1.1 ha

 

          4>Ưu điểm khu đất:

+Đảm bảo tốt việc liên lạc với các khu dân cư và các vùng lân cận khác, cự ly thích hợp đối với các nơi trong vùng dân cư mà bệnh viện phải phục vụ nhưng không gây ô nhiễm các khu này

+Có đủ khoảng cách ly cần thiết đối với khu dân cư, có điều kiện và khả năng phòng cháy chữa cháy tốt nhờ vào khoảng cây xanh bao quanh khu đất và nhánh sông  nhỏ đi qua khu đất.

+Có tầm nhìn đẹp ra sông ở các hướng tiếp giáp mặt đường của khu đất ngoại trừ hướng Đông Bắc.

+Tiếng ồn, khói bụi, mức độ ô nhiễm không khí không quá mức cho phép.

+Đóng góp cho cảnh quan đô thị, mặt khác có khả năng cung cấp một môi trường đẹp cho hoạt động của bệnh viện, gây tâm lý tốt cho bệnh nhân và nhân viên nói chung.

+Diện tích khu đất đủ để đáp ứng nhu cầu xây dựng cũng như khả năng mở rộng trong tương lai.

+Kích thước, hình thù khu đất thích hợp cho cấp bệnh viện, tiện lợi cho việc mở một số cổng có những chức năng khác nhau tại những vị trí khác nhau; đảm bảo khoảng cách từ đường đỏ đến mép công trình.

 

II-Qui mô công suất:

 

- Khu đất được chọn xây dựng thuộc khu đô thị mới Thủ Thiêm. Thủ Thiêm ở hướng Đông Nam của TP.HCM ở quận 2 vàbao quanh bởi các phường An Lợi Đông, Bình Khánh, Bình An & An Khánh.

- Do mới hình thành nên các ngành dịch vụ xã hội trong khu vực này như : giáo dục, y tế, văn hóa, thương mại, nhà ở vẫn còn thiếu. Riêng về y tế, hiện tại đã có một bệnh viên đa khoa quốc tế (FV), và một bệnh viện tim (Tâm Đức).

- Hiện tại dân số quận 7 (không tính dân nhập cư là 143.035 người ) nhưng theo dự kiến đến năm 2010 dân số sẽ tăng từ 450.000 – 500.000 dân (số liệu viện quy hoạch cung cấp 3/1999)

     - Theo cục điều tra dân số tháng 12/2004

                        ¨Dân số cả nước : 82.069.800 người.

                        ¨Dân số Thủ Thiêm : 130.000 người ( lực lượng lao động: 350.000 người).

                        - Dựa vào tỉ lệ tăng dân số, phạm vi phục vụ của bệnh viện và tư tưởng thiết kế à xác định công suất của bệnh viện là 1 giường cho 1000 dân. Từ đó xác định qui mô của bệnh viện là 250 giường( gồm điều trị phụ, sản, trẻ sơ sinh) è quy mô trung bình, với chức năng:    

                                    +Cấp cứu-Khám bệnh-Chữa bệnh

                                    +Đào tạo cán bộ y tế

                                    +Nghiên cứu khoa học về y học

                                    +Chỉ đạo tuyến dưới về chuyên môn-kỹ thuật

                                    +Phòng bệnh

                                    +Hợp tác quốc tế

                                    +Quản lý kinh tế y tế

 

D>Nhiệm vụ thiết kế

Bệnh viện phụ sản bao gồm các hạng mục chính như sau:

1/  Khối điều trị ngoại trú

2/  Khối kỹ thuật nghiệp vụ

3/  Khối chữa bệnh nội trú

4/  Khối hành chánh và phục vụ

Chiều cao thông thủy từ 3m đến 3.6m tùy yêu cầu cụ thể của các phòng chức năng

I-KHỐI ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ:

@Chức năng: khám bệnh và điều trị cho bệnh nhân ngoại trú. Với kết quả có được, có thể xác định cho các bệnh nhân này tiếp tục khám chữa bệnh ngoại trú theo định kỳ hay cho nhập viện.

@Yêu cầu : (khoảng 300 lượt/ngày)

- Liên hệ thuận tiện với khối kĩ thuật nghiệp vụ, khu hành chính với bộ phận thủ tục xuất nhập viện và khối chữa bệnh nội trú thông qua bộ phận tiếp nhận. Đồng thời, cần cách ly ở mức có thể luồng giao thông của bệnh nhân và y bác sĩ, cũng như tạo sự phân biệt giữa 2 luồng sạch và bẩn.
- Phòng khám sản hay phụ khoa cần có giường (hay bàn khám) chuyên dùng để khám và có khu vệ sinh riêng kèm theo. Nên có chỗ ngồi chờ riêng, hoặc bố trí cuối hành lang, có tính tương đối kín đáo tế nhị cho các bệnh nhân đến khám.


1>Khoa khám sản

STT

TÊN PHÒNG

DIỆN TÍCH (m2)

SỐ PHÒNG

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

13

14

15

16

17

Quầy đăng ký và phát thẻ+trả phiếu khám thai

Chỗ đợi bệnh nhân

Phòng tư vấn+Giảng sanh không đau

Phòng nhận bệnh

Phòng xét nghiệm (huyết trắng)

Phòng cân đo huyết áp, nhịp tim

Phòng đo tim thai (NST)

Phòng khám thai thường

Phòng khám thai bệnh lý

Phòng chích VAT

Phòng sinh hoạt khoa+giao ban

Phòng bác sĩ trưởng khoa

Phòng hộ lý + nữ hộ sanh

Phòng vệ sinh nhân viên + thay đồ

Phòng vệ sinh bệnh nhân

Kho sạch

Kho bẩn

12

80

16

16

16

16

16

20

20

14

16

16

16

8

14

8

8

1

1

1

1

1

1

1

4

2

1

1

1

1

2

2

1

1

2>Khoa khám phụ

STT

TÊN PHÒNG

DIỆN TÍCH (m2)

SỐ PHÒNG

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

13

14

15

16

17

18

19

20

Quầy đăng ký và phát thẻ

Chỗ đợi bệnh nhân

Phòng tư vấn

Phòng khám phụ

Phòng đốt lazer

Phòng đốt điện

Phòng đốt lạnh

Phòng soi tử cung

Phòng hồi sức (sau soi tử cung)

Phòng khám thanh thiếu niên

Phòng khám mãn kinh

Phòng xét nghiệm (soi huyết trắng)

Phòng thủ thuật

Phòng hồi sức

Phòng bác sĩ trưởng khoa+giao ban

Phòng hộ lý + nữ hộ sanh

Phòng vệ sinh nhân viên + thay đồ

Phòng vệ sinh bệnh nhân

Kho sạch

Kho bẩn

12

80

14

20

20

20

20

20

42

16

16

16

16

16

16

16

8

14

8

8

1

1

1

4

1

1

1

1

1

2

1

1

1

1

1

1

2

2

1

1


 

3>Khoa kế hoạch hoá gia đình

 

STT

TÊN PHÒNG

DIỆN TÍCH (m2)

SỐ PHÒNG

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

 

 

11

12

13

 

 

14

15

16

17

18

Quầy đăng ký và phát thẻ

Chỗ đợi bệnh nhân

Phòng tư vấn phá thai

Phòng nhận bệnh

Phòng bác sĩ trưởng khoa+giao ban

Phòng hộ lý + nữ hộ sanh

Phòng vệ sinh nhân viên + thay đồ

Phòng vệ sinh bệnh nhân

Kho sạch

Kho bẩn

 

PHÁ THAI NỘI KHOA

Phòng khám

Phòng triệt sản nam

Phòng hồi sức

 

PHÁ THAI NGOẠI KHOA

Phòng khám nạo, hút thai

Phòng thủ thuật (nạo, hút thai)

Phòng hồi sức

Phòng đặt, tháo vòng

Phòng kế hoạch hóa gia đình

12

80

20

16

16

16

8

14

8

8

 

 

16

16

32

 

 

20

20

42

20

14

1

1

1

1

1

1

2

2

1

1

 

 

2

1

1

 

 

3

3

1

1

1

 

4>Khoa khám sơ sinh

 

STT

TÊN PHÒNG

DIỆN TÍCH (m2)

SỐ PHÒNG

1

2

3

4

5

6

7

8

Quầy đăng ký và phát thẻ

Chỗ đợi bệnh nhân

Phòng khám sơ sinh (2 bàn)

Phòng chích VAT (2 bàn)

Phòng nghỉ y bác sĩ

Phòng vệ sinh nhân viên

Kho sạch

Kho bẩn

8

30

24

24

16

8

8

8

1

1

2

1

1

2

1

1

 


5>Khoa hiếm muộn

STT

TÊN PHÒNG

DIỆN TÍCH (m2)

SỐ PHÒNG

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

13

14

15

16

17

18

19

Quầy đăng ký và phát thẻ

Chỗ đợi bệnh nhân

Phòng tư vấn + giảng về điều trị vô sinh

Phòng nhận bệnh (2 bàn)

Phòng siêu âm

Phòng nội soi

Phòng kích, theo dõi noãn

Phòng bơm tinh trùng

Phòng lưu bệnh

Phòng lấy tinh trùng

Phòng trữ tinh trùng

P.xét nghiệm trứng, tinh trùng

P.thụ tinh trong ống nghiệm

Phòng bác sĩ trưởng khoa+giao ban

Phòng hộ lý + nữ hộ sanh

Phòng vệ sinh nhân viên

Phòng vệ sinh bệnh nhân

Kho sạch

Kho bẩn

12

60

42

42

24

24

24

24

48

18

18

28

28

16

24

8

16

8

8

1

1

1

1

1

1

1

1

1

1

1

1

1

1

1

2

2

1

1

         

6>Khoa cấp cứu

-Khoa cấp cứu là nơi thường nhận bệnh làm việc 24/24

-Cần đặt ở vị trí thuận tiện để đưa bệnh nhân vào.

-Có thể liên hệ với một số khoa trong khối kỹ thuật nghiệp vụ nhất là khoa mổ và phòng khám.

-Có lối đi trực tiếp từ ngoài vào nhằm tránh khu vực đông người

STT

TÊN PHÒNG

DIỆN TÍCH

(m2)

SỐ PHÒNG

1

2

3

4

 

 

5

6

7

8

10

11

12

Sảnh cấp cứu

Chỗ đợi thân nhân

Phòng trực y tá + lưu trữ hồ sơ

Phòng cấp cứu

   -Gian sơ cấp cứu (7 giường)

   -Gian theo dõi cấp cứu sản (7 giường)

Phòng tạm lưu (4 giường) (có WC)

Phòng họp giao ban, hội chẩn

Phòng bác sĩ trưởng khoa

Phòng hộ lý + nữ hộ sanh

Phòng vệ sinh nhân viên + thay đồ

Kho sạch

Kho bẩn

60

36

12

 

100

100

52

16

12

12

6

4

4

1

1

1

 

1

1

1

1

1

1

2

1

1

II-KHỐI KỸ THUẬT NGHIỆP VỤ

-Khối nghiệp vụ gồm các bộ phân chuyên môn phục vụ cho công tác chẩn đoán, điều trị của hai khối nội trú và ngoại trú, vì vậy thường nằm ở vị trí giữa hai khối này. Vì có nhiều bộ phận đóng vai trò kế cận hỗ trợ cho công tác thăm khám cho thuốc (lâm sàng) nên gọi là các khối cận lâm sàng.

 

1>Khoa sanh

-Khoa sanh thường để tại các nhánh cụt nơi ít người qua lại nhưng phải liên hệ thuận tiện với khoa cấp cứu, khoa mổ, khoa xét nghiệm, các đơn nguyên khoa Sản. Phòng sanh phải đảm bảo điều hòa nhiệt độ và thông gió nhân tạo, dễ cọ rửa.

 

              

 

                                     GIƯỜNG SANH KIỂU MỚI (LDRP)

 

 

STT

TÊN PHÒNG

DIỆN TÍCH (m2)

SỐ PHÒNG

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

13

14

15

16

17

18

19

20

Quầy hướng dẫn, tiếp nhận

Sảnh đợi của thân nhân

Phòng trực và lưu trữ hồ sơ

Phòng chờ sanh (5giường) (có phòng y tá trực)

Phòng sanh 2 bàn

Phòng sanh 3 bàn

Phòng sanh 4 bàn

Phòng cấp cứu sơ sinh

Phòng nghỉ sau khi sanh

Phòng lưu sơ sinh

P.y tá trực+làm thuốc cho sản phụ

Phòng bác sĩ trưởng khoa

Phòng giao ban

Phòng nghỉ bác sĩ nam

Phòng nghỉ bác sĩ nữ

Phòng hộ lý + nữ hộ sanh

Phòng vệ sinh nhân viên + thay đồ

Phòng vệ sinh bệnh nhân

Kho sạch

Kho bẩn

8

80

8

42

24

36

48

24

64

48

20

12

12

12

12

12

12

4

16

16

1

1

1

2

4

1

1

1

1

1

1

1

1

1

1

1

2

3

1

1

 

2>Khoa mổ

Khoa mổ nên ở tầng hai và phải bảo đảm các yêu cầu sau:

- Điều kiện vệ sinh cao

- Riêng biệt với các khối nội trú, tránh nơi nhiều người qua lại.

- Liên hệ trực tiếp với khoa hồi sức cấp cứu, thuận tiện với khoa X quang, xét nghiệm.

- Phòng mổ được thông gió nhân tạo, có thiết bị chắn bụi, côn trùng và được khử trùng thường xuyên.

-Tránh dẫn các ống gain, nhất là gain nước phải xuyên qua khu Mổ à dễ gây ô nhiễm khi hư hỏng --à phải phá dỡ gain để sửa chữa

-Phải có nguồn điện, nước dự phòng khi có sự cố.

 

                                       



STT

TÊN PHÒNG

DIỆN TÍCH (m2)

SỐ PHÒNG

1

2

 

3

4

5

 

6

7

8

9

 

10

11

12

 

13

14

15

16

17

18

19

20

21

22

23

Y tá trực + nhận hồ sơ

Chờ cho thân nhân

KHU VỰC VÔ KHUẨN

Phòng mổ vô khuẩn (phòng nhỏ)

Phòng mổ vô khuẩn (phòng lớn)

Phòng khử trùng dụng cụ

KHU VỰC SẠCH

Phòng mổ hữu khuẩn

Phòng gây mê hồi sức (6 giường)

Phòng bác sĩ trực (gây mê)

Phòng chuẩn bị bông, băng, dụng cụ mổ,

bảo quản máy thiết bị chính xác

Phòng giải lao PTV

Phòng tắm rửa, thay đồ phẫu thuật viên

Phòng quan sát mổ, hội chẩn

KHU VỰC LÂN CẬN

Phòng chờ mổ

Phòng hậu phẫu

Phòng để máy phục vụ mổ

Phòng máy điện dự phòng

Kho xe đẩy

Hành chánh khoa

Phòng bác sĩ trưởng khoa

Phòng nghỉ nhân viên

Thay đồ + vệ sinh nhân viên

Kho sạch

Kho bẩn

12

30

 

30

42

8

 

24

36

12

20

 

20

18

40

 

36

54

18

18

16

24

24

40

16

16

16

1

1

 

2

2

2

 

2

1

1

1

 

1

2

1

 

1

1

1

1

1

1

1

1

2

1

1

                                        

 

 

                

                  

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

         

 

 

 

  3>Khoa nhũ ảnh

STT

TÊN PHÒNG

DIỆN TÍCH (m2)

SỐ PHÒNG

1

2

3

4

5

6

7

8

9

Quầy tiếp nhận và trả hồ sơ

Chỗ đợi bệnh nhân

Phòng khám nhũ hoa

Phòng siêu âm

Phòng bác sĩ trưởng khoa+giao ban

Phòng hộ lý

Phòng vệ sinh nhân viên

Phòng vệ sinh bệnh nhân

Kho

16

30

18

15

12

12

6

6

8

1

1

3

2

1

1

2

2

2

 

4>Khoa X-quang

-Khu X quang cần được bố trí nơi mà bệnh nhân nội ngoại trú đều sử dụng tiện lợi. Khu X quang cần bố trí gần trung tâm cấp cứu.

-Khu này yêu cầu chiều cao thông thủy cao hơn các phòng chức năng trong bệnh viện nên thường ở tầng trệt. Nhiều giải pháp kiến trúc bố trí khu X quang trên gần đường dẫn tới phòng mổ nhưng cũng có giải pháp sử dụng các máy X quang lưu động đặt ngay trong khu mổ.

-Cần đảm bảo an toàn đối với khu vực lân cận của bệnh viện.

 

 

 

                            T

TÊN PHÒNG

DIỆN TÍCH (m2)

SỐ PHÒNG

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

13

14

15

16

Quầy tiếp nhận và trả hồ sơ

Chỗ đợi bệnh nhân

Kho lưu hồ sơ

Phòng X.quang

Phòng nhũ ảnh

Phòng lưu trữ phim

Phòng rửa tráng rọi phim

Phòng tối

Phòng kỹ thuật viên

Phòng hộ lý

Phòng họp giao ban

Phòng trưởng khoa

Phòng vệ sinh nhân viên + thay đồ

Phòng vệ sinh bệnh nhân

Kho sạch

Kho bẩn

12

40

12

40

40

20

20

12

12

12

12

12

6

8

6

6

1

Phân tán

1

2

1

1

1

1

1

1

1

1

2

2

1

1

 

5>Khoa siêu âm

STT

TÊN PHÒNG

DIỆN TÍCH (m2)

SỐ PHÒNG

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

Quầy tiếp nhận và trả hồ sơ

Chỗ đợi bệnh nhân

Phòng siêu âm 2 giường

Phòng siêu âm 1 giường

Phòng bác sĩ trưởng khoa+giao ban

Phòng hộ lý

Phòng vệ sinh nhân viên

Phòng vệ sinh bệnh nhân

Kho sạch

Kho bẩn

12

30

18

15

12

12

6

6

8

8

1

1

3

2

1

1

2

2

1

1

               6>Khoa xét nghiệm

-Các phòng xét nghiệm cần có các bàn thao tác có bề mặt chống acid ăn mòn, các chậu rửa dễ làm vệ sinh và cũng chống ăn mòn hóa học, các vòi nước kiểu cổ ngỗng chống chất bẩn chảy ngược lại làm ô nhiễm nguồn nước.

-Sàn nhà cũng phải nhẵn, ít gây ồn và chống acid ăn mòn, có thể dùng các vật liệu tổng hợp.

-Tường cần chống thấm, sơn hay ốp gạch men đến độ cao tối thiểu là 1,5m.

 

STT

TÊN PHÒNG

DIỆN TÍCH (m2)

SỐ PHÒNG

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

13

14

15

16

17

Quầy tiếp nhận và trả hồ sơ

Chỗ đợi bệnh nhân

Kho lưu hồ sơ

Phòng lấy mẫu xét nghiệm

Phòng xét nghiệm sinh hóa

Phòng xét nghiệm huyết học

Phòng vi thể

Phòng nội tiết

Phòng vi trùng

Phòng di truyền

Phòng tế bào

Phòng bác sĩ trưởng khoa + giao ban

Phòng hộ lý

Phòng vệ sinh nhân viên

Phòng vệ sinh bệnh nhân

Kho sạch

Kho bẩn

12

40

12

15

24

24

12

12

12

12

12

16

16

6

8

8

8

1

Phân tán

1

4

1

1

1

1

1

1

1

1

1

2

2

1

1

 

 

7>Ngân hàng máu

-Đặt gần khoa xét ngiệm, khoa mổ, sanh, cấp cứu

STT

TÊN PHÒNG

DIỆN TÍCH (m2)

SỐ PHÒNG

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

Quầy tiếp nhận

Phòng lấy máu (có giường nghỉ người cho máu)

Phòng xét nghiệm huyết học

Khử trùng dụng cụ

Phòng trữ máu

Phòng bác sĩ trưởng khoa+giao ban

Phòng hộ lý

Phòng vệ sinh nhân viên

Kho sạch

Kho bẩn

12

18

24

12

30

18

18

8

8

8

1

2

1

1

1

1

1

2

1

1

           

          8>Khoa dược

-Có chức năng nhập thuốc và cung cấp cho các khoa khi có yêu cầu

-Nên đặt ở địa điểm khá trung tâm, tiện lợi cho y tác các nơi về lấy thuốc, chỉ nên tập trung ở 1 tầng trệt hay lầu 1, gần cụm thang máy và PKĐK, không được bố trí ở tầng hầm.

-Có thể bố trí 1 quầy dược trong PKĐK thay vì đem cả khu dược vào gần PKĐK.

 

STT

TÊN PHÒNG

DIỆN TÍCH (m2)

SỐ PHÒNG

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

13

Quầy phát thuốc+chỗ đợi

Phòng phân loại thuốc

Phòng soi, dán nhãn

Phòng kiểm nghiệm

Phòng Kế toán- thống kê

Phòng dược sĩ

Phòng nghỉ nhân viên

Kho thuốc chẵn

Kho thuốc lẻ

Kho hóa chất

Kho hoá chất bay hơi

Kho bông băng, dụng cụ y tế

Phòng wc + thay quần áo

36

28

28

16

16

16

16

65

32

24

24

18

8

1

1

1

1

1

1

1

1

1

1

1

1

2

 

9>Khoa giải phẫu bệnh lý và nhà đại thể

- Khoa này được tách riêng với các khoa khác, đặt nơi kín đáo, để không gây tâm lý hoang mang cho bệnh nhân đồng thời tránh sự nhòm ngó của công chúng nhất đối với việc giải phẫu tử thi.

- Có cửa đi trực tiếp từ phòng để xác tới phòng mổ xác, từ phòng để xác tới phòng tang lễ, từ ngoài vào phòng tang lễ.

 

STT

TÊN PHÒNG

DIỆN TÍCH (m2)

SỐ PHÒNG

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

Chuẩn bị  - rửa hấp dụng cụ

Phòng giải phẫu tử thi

Phòng lưu bệnh phẩm

Phòng nghiên cứu

Phòng thay quần áo – tắm nhân viên

Phòng lạnh để xác

Phòng tang lễ

Phòng khâm liệm

Phòng bác sỹ

Phòng nhân viên trực

Phòng vệ sinh khách

8

36

16

24

8

32

24

16

9

9

4

1

1

1

1

1

1

1

1

1

1

1

 

III- KHỐI HÀNH CHÁNH VÀ PHỤC VỤ

-Khối hành chính, quản trị và phục vụ sinh hoạt phải riêng biệt nhưng cần liên hệ thuận tiện với khối nghiệp vụ và các đơn nguyên điều trị, đồng thời không được làm cản trở đến dây chuyền chữa bệnh cũng như ảnh hưởng đến sự yên tĩnh.

 

 1> Khối hành chánh:

1.1>Khu hành chánh

-Là bộ phận đầu não, điều hành mọi hoạt động trong bệnh viện.

-Khu hành chánh được đặt tại khu trung tâm, dễ dàng liên hệ với các khoa khác trong bệnh viện cũng như khách từ ngoài đến liên hệ. Tuy nhiên nên nhường ưu tiên chỗ tốt cho các khối chuyên môn như PKĐK, nghiệp vụ...

 

STT

TÊN PHÒNG

DIỆN TÍCH (m2)

SỐ PHÒNG

1

2

3

 

4

5

6

7

8

9

10

11

12

13

14

15

16

17

Phòng hội thảo 100 chỗ

Phòng giảng chuyên đề

Phòng phó giám đốc – Chủ tịch công đoàn

Phòng phó giám đốc – Bí thư đảng ủy

Phòng giám đốc + tiếp khách

Phòng y vụ

Phòng lưu trữ

Phòng họp giao ban

Phòng hội chữ thập đỏ

Phòng tổ chức cán bộ, đảng uỷ

Phòng hành chánh- quản trị

Phòng tài vụ-kế toán

Thư viện

Phòng vệ sinh

Phòng vi tính

Phòng tổng đài

Phòng nghỉ nhân viên nam

Phòng nghỉ nhân viên nữ

160

26

26

 

24

18

18

26

12

12

12

12

26

8

24

24

16

16

1

1

1

 

1

1

1

1

1

1

1

1

1

2

1

1

1

1

 

1.2>Khu sinh viên thực tập

STT

TÊN PHÒNG

DIỆN TÍCH (m2)

SỐ PHÒNG

1

2

3

4

5

6

7

Phòng sinh hoạt giảng dạy

Phòng bác sĩ nữ

Phòng bác sĩ nam

Phòng sinh viên nữ

Phòng sinh viên nam

Phòng nữ hộ sinh thực tập

Phòng vệ sinh + thay đồ

25

20

20

25

25

25

6

1

1

1

1

1

1

2

 

 2>Khối phục vụ

-Có tính chất hậu cần

-Thường nằm phía sau hay bên hông bệnh viện để dễ dàng liên hệ với cổng hậu cần, tiếp liệu.

 

2.1>Khoa dinh dưỡng + nhà bếp

-Nhà bếp nên đặt tại nơi ít ảnh hưởng tới bệnh nhân do tỏa nhiệt, khói và các mùi nặng.

-Nhà bếp cũng phải đặt tại vị trí không có các dòng giao thông khác đi xuyên qua ví dụ như dòng quần áo sạch, dơ các vật tư từ trong kho...

-Thuận tiện cho việc vận chuyển thức ăn theo đường ngắn nhất tới các buồng bệnh.

-Thuận tiện cho việc vận chuyển thực phẩm từ ngoài vào và đưa rác ra ngoài.

STT

TÊN PHÒNG

DIỆN TÍCH (m2)

SỐ PHÒNG

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

Khu gia công thô, kỹ, nấu

Khu soạn chia

Khu rửa

Kho lương thực

Kho thực phẩm khô, gia vị

Kho bát đĩa đồ dùng

Kho lạnh

Căn tin nhân viên

Phòng trực+nghỉ nhân viên nam

Phòng trực+nghỉ nhân viên nữ

Phòng bác sĩ dinh dưỡng

Thay đồ+WC nhân viên khu phục vụ

100

50

50

18

18

18

18

170

20

20

12

20

1

1

1

1

1

1

1

1

1

1

1

2

 

2.2>Khu giặt

            Khu giặt chịu trách nhiệm giặt, tẩy, ủi, hấp các đồ dơ trong bệnh viện và may vá đồ mới

            Khu giặt phải được liên hệ tới các khoa một cách thuận tiện.


TT

TÊN PHÒNG

DIỆN TÍCH (m2)

SỐ PHÒNG

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

13

Phòng quản lý

Nghỉ nam

Nghỉ nữ

Nhận đồ dơ

Phân loại đồ bẩn

Phòng giặt ( hấp tiệt trùng)

Vắt nước

Sấy

May vá

Sắp xếp

Phát đồ sạch

Kho đồ sạch

12

15

28

24

24

30

30

16

16

16

16

24

28

1

1

1

1

1

1

1

1

1

1

1

1

1

                                                           

 

2.3>Các khu phụ trợ khác

STT

TÊN PHÒNG

DIỆN TÍCH (m2)

SỐ PHÒNG

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

Khu thanh trùng dụng cụ+lò thiêu bông băng

Trạm xử ký nước thải

Kho đồ cũ

Kho đồ sinh hoạt

Kho xe đẩy

Xưởng sửa chữa

Trạm biến điện

Bể nước dự trữ

Nhà xe tải – xe cấp cứu + xưởng bảo trì xe

Nơi để xe khách và bệnh nhân

Nơi để xe nhân viên, y bác sỹ

Nơi để xe nhân viên phục vụ

95

90

12

24

24

42

80

80

75

120

60

50

1

1

 

1

1

1

1

1

1

1­­

1

1

 

 

 

 

 

 

 

2.4>Khu dịch vụ thương mại

-Bệnh viện không nhất thiết phải đứng ra tổ chức các dịch vụ này mà chỉ đứng ra cho thuê chỗ để các cơ quan, tư nhân có chức năng kinh doanh các dịch vụ nói trên vào làm dịch vụ.

-Vị trí: thường có lối liên hệ gần tới sảnh chính.

STT

TÊN PHÒNG

DIỆN TÍCH (m2)

SỐ PHÒNG

1

2

3

4

Căn-tin

Quầy thuốc, dụng cụ y tế (kể cả kho thuốc)

Bưu điện, Internet

Tạp phẩm, hoa tươi

120

40

30

12

1

1

1

1

 

IV-KHỐI ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ:

-Là khối lớn nhất của bệnh viện, thường chia thành các đơn nguyên (còn gọi là khoa hay trại bệnh) theo từng chuyên khoa bệnh để điều trị bệnh nhân nội trú, trong y khoa còn gọi là khối lâm sàng.

-Thường chiếm vị trí trung tâm, có khối tích lớn nhất bệnh viện và tạo dáng dấp chính của công trình.

-Được bố trí lui về phía sau nhằm có được tính cách ly, yên tĩnh.

-Các đơn nguyên của khu nội trú trong công trình được phân bố như sau:

 

Tầng cao

Khối nội trú 1

Khối nội trú 2

Tầng 1

Hồi sức cấp cứu

(khoa khác)

Tầng 2

Phụ sản khoa ngoại, khoa nội

Dưỡng nhi

Tầng 3

Đơn nguyên tiền sản bệnh

Đơn nguyên tiền sản thường

Tầng 4

Hậu phẩu sản khoa

Đơn nguyên hậu sản phụ khoa

Tầng 5

Đơn nguyên hậu sản thường

Đơn nguyên hậu sản thường

Tầng 6

Ung bướu

Đơn nguyên nội tiết

Tầng 7

Đơn nguyên sản cách ly

 

 

 

 

 

1>Đơn nguyên hồi sức cấp cứu (ICU) (24 giường)

                            

STT

TÊN PHÒNG

DIỆN TÍCH (m2)

SỐ PHÒNG

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

13

14

Khu bệnh nhân thường (18 giường)

Phòng bệnh nhân lây (5 giường)

Phòng bệnh nhân nặng (1 giường)

Phòng tiểu phẫu

Phòng tắm nắng

Phòng hành chánh khoa

Phòng y tá trực+hồ sơ

Phòng soạn ăn

Phòng nghỉ y bác sĩ nam

Phòng nghỉ y bác sĩ nữ

Vệ sinh nhân viên

Vệ sinh bệnh nhân

Kho sạch

Kho bẩn

180

75

20

36

80

16

16

16

16

16

8

8

8

8

1

1

2

1

1

1

2

1

1

1

2

2

1

1

 

2>Đơn nguyên dưỡng nhi

 

STT

TÊN PHÒNG

DIỆN TÍCH (m2)

SỐ PHÒNG

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

13

14

15

16

Sảnh tiếp nhận

Y tá trực+hồ sơ

Phòng dưỡng nhi thường (9 nôi)

Phòng dưỡng nhi thường (6 nôi)

Phòng dưỡng nhi thiếu tháng (6 nôi)

Phòng tắm nắng

Kho xe nôi

Phòng tắm trẻ

Phòng pha sữa

Phòng khám+cấp cứu

Phòng trưởng khoa + giao ban

Phòng nghỉ y bác sĩ nam

Phòng nghỉ y bác sĩ nữ

Phòng vệ sinh nhân viên

Kho sạch

Kho bẩn

36

18

36

24

24

42

20

15

15

15

15

15

15

8

8

8

1

1

3

5

4

1

2

1

1

1

1

1

1

2

1

1

 

3>Đơn nguyên ung bướu (30 giường)

STT

TÊN PHÒNG

DIỆN TÍCH (m2)

SỐ PHÒNG

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

13

14

15

16

17

18

Sảnh tiếp nhận+chỗ tiếp thân nhân

Y tá trực+hồ sơ

Phòng 3 giường (có vệ sinh)

Phòng 2 giường (có vệ sinh)

Phòng 1 giường (có vệ sinh)

Phòng bệnh nhân nặng 1 giường

Phòng giải trí bệnh nhân

Phòng tắm nắng

Phòng tư vấn

Phòng soạn ăn

Phòng điều trị vô khuẩn (có phòng dụng cụ)

Phòng điều trị hữu khuẩn (có phòng dụng cụ)

Phòng bác sĩ trưởng khoa

Phòng giao ban

Phòng nghỉ y bác sĩ nam

Phòng nghỉ y bác sĩ nữ

Phòng vệ sinh nhân viên

Kho

40

18

36

24

24

14

30

36

24

14

36

36

24

20

18

18

9

6

1

2

6

4

2

2

1

1

1

1

1

1

1

1

1

1

2

2

 

4>Đơn nguyên sản cách li (20 giường)

STT

TÊN PHÒNG

DIỆN TÍCH (m2)

SỐ PHÒNG

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

13

14

15

16

17

18

19

Sảnh tiếp nhận

Y tá trực+hồ sơ

Phòng thay áo cho người thăm bệnh

Phòng 2 giường (có vệ sinh và phòng dưỡng nhi)

Phòng 1 giường (có vệ sinh và phòng dưỡng nhi)

Phòng bệnh nhân nặng 1 giường

Phòng giải trí bệnh nhân

Phòng tắm nắng

Phòng tư vấn

Phòng soạn ăn

Phòng điều trị vô khuẩn (có phòng dụng cụ)

Phòng điều trị hữu khuẩn (có phòng dụng cụ)

Phòng bác sĩ trưởng khoa

Phòng giao ban

Phòng nghỉ y bác sĩ nam

Phòng nghỉ y bác sĩ nữ

Phòng vệ sinh nhân viên

Kho sạch

Kho bẩn

40

18

4

36

24

14

30

36

24

14

36

36

24

20

18

18

9

6

6

1

2

1

6

6

2

1

1

1

1

1

1

1

1

1

1

2

1

1

5>Đơn nguyên điển hình 1 (30 giường)

 

STT

TÊN PHÒNG

DIỆN TÍCH (m2)

SỐ PHÒNG

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

13

14

15

16

17

18

Sảnh tiếp nhận+chỗ tiếp thân nhân

Y tá trực+hồ sơ

Phòng 3 giường (có vệ sinh)

Phòng 2 giường (có vệ sinh)

Phòng 1 giường (có vệ sinh)

Phòng bệnh nhân nặng 1 giường

Phòng giải trí bệnh nhân

Phòng tắm nắng

Không gian thư giãn ngoài trời

Phòng soạn ăn

Phòng điều trị vô khuẩn (có phòng dụng cụ)

Phòng điều trị hữu khuẩn (có phòng dụng cụ)

Phòng bác sĩ trưởng khoa+giao ban

Phòng nghỉ y bác sĩ nam

Phòng nghỉ y bác sĩ nữ

Phòng vệ sinh nhân viên

Kho sạch

Kho bẩn

40

18

36

24

24

14

40

40

24

14

30

30

14

14

14

9

9

9

1

2

6

4

2

2

1

1

1

1

1

1

1

1

1

2

1

1

 

6>Đơn nguyên điển hình 2 (30 giường)

STT

TÊN PHÒNG

DIỆN TÍCH (m2)

SỐ PHÒNG

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

13

14

15

16

17

18

Sảnh tiếp nhận+chỗ tiếp thân nhân

Y tá trực+hồ sơ

Phòng 3 giường (có vệ sinh)

Phòng 2 giường (có vệ sinh)

Phòng 1 giường (có vệ sinh)

Phòng bệnh nhân nặng 1 giường

Phòng giải trí bệnh nhân

Phòng tắm nắng

Phòng soạn ăn

Phòng điều trị vô khuẩn (có phòng dụng cụ)

Phòng điều trị hữu khuẩn (có phòng dụng cụ)

Phòng bác sĩ trưởng khoa

Phòng giao ban

Phòng nghỉ y bác sĩ nam

Phòng nghỉ y bác sĩ nữ

Phòng vệ sinh nhân viên

Kho sạch

Kho bẩn

40

18

36

24

24

14

30

36

14

36

36

24

24

18

18

9

6

6

1

2

6

4

2

2

1

1

1

1

1

1

1

1

1

2

1

1

 

E>Giới thiệu tài liệu tham khảo:

¨Tuyển tập tiêu chuẩn xây dựng Vịêt Nam (tập IV).

¨Thiết kế và tổ chức không gian kiến trúc BỆNH VIỆN ĐA KHOA (TS-KTS Trần Văn Khải)

¨Neufert – Dữ liệu Kiến trúc sư.

¨Bản đồ định hướng phát triển không gian đến năm 2020 của Sở Qui hoạch TP.Hồ Chí Minh.

¨Bản đồ quy hoạch sử dụng đất khu trung tâm y tế kỹ thuật cao - huyện Bình Chánh.

¨Số liệu của sở y tế thành phố.

¨Tài liệu của trạm khí tượng thủy văn cho khu vực Thành Phố Hồ Chí Minh.

¨Các bệnh viện chuyên khoa sản tại Thành Phố Hồ Chí Minh.

 

F>Bản đồ và những số liệu liên quan đến khu vực xây dựng

I-Bản đồ:

1>Bản đồ quy hoạch:Chính phủ Việt Nam đã có quyết định phê duyệt vùng đất này trở thành khu trung tâmd9a chức năng thông qua 2 đồ án Quy hoạch 1/5000 (năm 1996) và 1/2000 (năm 1998).

Năm 2003, một cuộc thi ý tưởng thiết kế đô thị quốc tế cho bán đảo Thủ Thiêm đã được tổ chức. Cuộc thi đã chọn ra được đồ án đoạt giải cao nhất do công ty Sasaki.

Vị trí địa lý của Trung tâm đô thị mới Thủ Thiêm tiếp giáp:

-Phía bắc: giáp sông Sài Gòn (quận Bình Thạnh)

-Phía nam: giáp sông Sài Gòn (quận 7)

-Phía đông: giáp phường Bình Khánh (quận 2)

-Phía tây: giáp sông Sài Gòn (quận 1 & quận 4)

Ngày 01/11/2001 Chủ tịch UBND Thành phố ban hành quyết định số 103/2001/QĐ-UB thành lập Ban Quản lý Đầu tư- Xây doing Khu đô thị mới Thủ Thiêm, để thực hiện nhiệm vụ quản lý Nhà Nước và đầu tư theo quy định của Nhà Nước, căn cứ Quyết định số 367/QĐ- TTG ngày 04/06/1996 và văn bản số 190/CP-NN ngày 22/02/2002 của Thủ tương chính phủ về phê duyệt Quy hoạch và thu hồi đất xây dựng Khu đô thị mới Thủ Thiêm (bao gồm 770 ha để xây dựng Khu đô thị mới và 160 ha xây dựng khu tái định cư); ngày 10/05/2002 Chủ tịch UBND Thành Phố ban hành quyết định số 1997/QĐ-UB thu hồi 621,4328 ha đất nằm trong Quy hoạch xây dựng Khu đô thị mới Thủ Thiêm tại các phường Thủ Thiêm, An Khánh, An Lợi Đông, Bình Khánh, Bình An thuộc quận 2 và giao cho ban Quản lý đầu tư- Xây dựng Khu đô thị mới Thủ Thiêm triển khai dự án.

-Để phục vụ công tác tái định cư dự án khu đô thị mới Thủ Thiêm UBND Thành phố đã ban hành quyết định số 3617/   QĐ-UB ngày 04/09/2002 về thu hồi 90,2607 đất tại phường An Phú, Q.2 ; quyết định số 497/ QĐ-UB ngày 20/01/2003 thu hồi 6,3696 ha đất tại phường Thạnh Mỹ Lợi, Q.2, giao ban Quản lý Đô thị mới Thủ Thiêm xây dựng khu tái định cư phục vụ dự án Khu đô thị mới Thủ Thiêm và thu hồi đất của các dự án trên địa bàn Q.2 để phục vụ tái định cư  quyết định số 2955/QĐ-UB ngày 24/06/2004 về thu hồi 1,1715 ha đất tại phường An Phú xây dựng khu tái định cư An Phú, quyết định số 1819/QĐ-UB ngày 14/05/2002 về thu hồi 1,2109 ha đất tại khu đô thị An Phú- An Khánh; Công văn số 6271/UB-ĐT ngày 20/10/2004 thu hồi 50 ha đất cụm III, Cát Lái thuộc dự án công nghiệp Cát Lái cũ.      

   Một số góc nhìn của Thủ Thiêm:

II-Điều Kiện Tự Nhiên

 

1>Thảm thực vật:

Thảm thực vật tự nhiên của Thủ Thiêm bao gồm 2 nhóm chính: thảm thực vật ven sông rạch và thảm thực vật trên đầm lầy ngập triều

Thực vật ven sông rạch gồm phần lớn các loài thích nghi với điều kiện nước lợ trong khi vùng đầm lầy ngập triều lại gồm đa số các loài thích nghi với vùng nước ngọt. Sự tương phản giữa hệ thực vật thích nghi vùng nước lợ với hệ thực vật thích nghi vùng nước ngọt hiện diện tại cùng 1 địa điểm là nét đặc sắc của thảm thực vật khu vực bán đảo Thủ Thiêm, một điều lý thú trên khía cạnh sinh thái học thực vật.

Các vùng đất ngập nước tự nhiên ở Thủ Thiêm hiện đang đảm nhận nhiều chức năng sinh môi quan trọng: tích trữ nước triều, tiêu tán năng lượng triều, thanh lọc nguồn nước, bảo vệ bờ, chống xói lở, điều hòa vi khí hậu, là nơi ở của nhiều loài động, thực vật (giá trị đa dạng sinh học). Một khi hệ sinh thái tự nhiên được bảo tồn, các chức năng sinh môi này sẽ còn tiếp tục được thực hiện. Bảo tồn đất ngập nước tự nhiên bean trong đô thị không phải là1 việc làm, mà thực ra chỉ có thể giúp giải quyết nhiều vấn đề kỹ thuật , công trình theo hướng ít tốn kém.

Có được 1 diện tích tự nhiên khá lớn tồn tại ngay sát cạnh khu vực nội ô của đô thị lớn nhất cả nước, và là một trong những đô thị lớn nhất vùng Đông Nam Á, là 1 điều rất hiếm hoi, một quà tặng quý báu của loch sử. Tự bản than nó, hệ sinh thái tự nhiên này chứa đựng những giá trị quý giá.

                 2>Địa hình

         Do 3 mặt bán đảo giáp sông Sài Gòn nên Thủ Thiêm là vùng đất trũng, bằng phẳng. Cao độ tự nhiên trung bình 0,8 – 1,4 m.

3>Địa chất:

  • Khu quy hoạch nằm trên nền đất yếu. Trên mặt có lớp đất hữu cơ và bùn sét, độ lún nhiều, bền dày trung bình 32,4 m
  • Lớp thứ hai thuộc đất cát chặt vừa dày trung bình 3m, là lớp có sức chịu tải trung bình.
  • Lớp thứ ba thuộc đất sét pha cát rắn, bề dày trung bình 2,7 m là lớp đất có sức chịu tải trung bình.
  • Lớp thứ 4 là lớp đất pha cát chặt vừa dày trung bình 8,5 m là lớp đất có sức chịu tải trung bình.
  • Lớp đất thứ 5 là lớp cát thuộc trạng thái chặt bề dày trung bình 2.2m – 10m là lớp đất tốt chịu tải cao

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

           

 4>Yếu tố khí hậu :

Thủ Thiêm nằm trong khu vực khí hậu Tp.Hồ Chí Minh (Theo số liệu đài Khí Tượng Thủy Văn Tân Sơn Nhất).

- Nhiệt độ bình quân 270C

- Khí hậu nhiệt đới gió mùa hai mùa chính : Mùa mưa và mùa khô.

- Độ ẩm bình quân là 79.5%

- Nắng : Số giờ nắng cao trung bình 6,3h/ngày.

- Lượng bốc hơi : Khá lớn trong năm 1350mm trung bình 3,7mm/ngày.

- Gió : Thịnh hành vào mùa khô là Đông Nam (40%) và Đông (30%), trong mùa mưa Tây Nam (66%).

  • nắng:số giờ nắng trung bình l 2467 giờ/năm
  • mưa: lượng mưa trung bình hng năm là 1946mm, mưa bắt đầu từ tháng 05 đến tháng 11 trong năm, với vũ lượng chiếm tỷ lệ lớn 89.8%-99.4%lượng mưa cả năm. Vào các tháng trên, mỗi tháng số ngày mưa trên 20 ngày, tháng 07,08 số ngày mưa lên 25 ngày. Lượng mưa lớn trong năm thường tập trung tháng 06 đầu mùa mưa và tháng 09,10 là tháng cuối mùa mưa
  • gió: hướng gió tốt là hướng đông nam.

■từ tháng 06 đến tháng 10 hướng gió chủ đạo là hướng tây nam:V = 3-4m/s

■từ tháng 10 đến tháng 1 hướng gió chủ đạo là hướng bắc: V = 3,4-3m/s

                                ■ từ tháng 2 đến tháng 5 hướng gió chủ đạo là hướng đông nam

                     Khu vực Thủ Thiêm rất ít chịu ảnh hưởng của gió bo

  • Nhiệt độ: nhiệt độ cao nhất vào các tháng trước mùa mưa(tháng 03,04,05), tháng 03/1980 là 37 độ C. nhiệt độ cao nhất lịch sử trắc quang là 43,8 độ C, xuất hiện vào tháng 1l1987.
  • Độ ẩm: độ ẩm trung bình hang năm là 79,7%. Cao nhất vào khoảng 86%, độ ẩm cao tuyệt đối của tháng qua thống kê xác xuất từ năm 1977 đến 1988 biến đổi từ 64% đến 81%.

BIỂU ĐỒ NHIỆT ĐỘ

 

 

30

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

29

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

28

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

27

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

26

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

25

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

24

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

23

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

 

          Lượng mưa bình quân trong năm

         + Lượng mưa nhiều nhất là tháng 09: 388 mm.

                                                            + Lượng mưa ít nhất là tháng 02: 3 mm

                                                            + Số ngày mưa bình quân trong năm : 154 ngày.

                                                            + Trữ lượng trong năm : 1979 mm.

                                                Lượng mưa tập trung trên 90% vào các tháng từ tháng 6 đến tháng 11. các tháng còn lại chiếm chưa đầy 10%

 

 

Bức xạ mặt trời

+Tổng lượng bức xạ trung bình : 3445 Cal/năm.

+ Tổng giờ nắng trong năm từ  2.600 2.700 giờ, trung bình mỗi tháng : 220 giờ.

                                                            + Tháng 03 có số giờ nắng cao nhất, khoảng 300 giờ, trung bình 10 giờ/ngày.

                                                            + Tháng 08 có số giờ nắng thấp nhất, khoảng 140 giờ, trung bình 4,5 giờ/ngày. 

 Lượng bốc hơi

         -Bình quân ngày : 8,7 mm.

         -Ngày cao nhất : 13,8 mm.

 

Không khí

Độ ẩm trung bình 75% năm cao nhất là 90%năm, thấp nhất là 60% năm.

 

......................................................

.........................

 

 

 

PHẦN III : TRANG TRÍ NỘI THẤT

PHÒNG NỘI TRÚ

I-Khái quát:

1>Vai trò của phòng nội trú:

-Phòng nội trú được xem là phòng quan trọng nhất vì nó phục vụ trực tiếp cho bệnh nhân trong suốt quá trình điều trị.

-Một không gian nội trú được thiết kế hợp lí, đảm bảo hoạt động của nhân viên y tế, phục vụ tốt cho nhu cầu của bệnh nhân, kết hợp với những yếu tố trang trí mĩ thuật sẽ góp phần vào quá trình điều trị của bệnh nhân. Đây là một phương pháp điều trị mới – “phương pháp điều trị toàn diện”.

2>Hạng mục thiết kế:

-Thiết kế một phòng nội trú cao cấp 1 giường, nằm trong đơn nguyên sản cách li, đi kèm là một phòng vệ sinh riêng và một phòng dưỡng nhi.

-Đây là loại phòng nội trú khá đặc biệt vì cứ hai phòng dạng này sẽ đi kèm với một phòng dưỡng nhi nhằm tao ra sự cách li tương đối giữa bà mẹ và trẻ sơ sinh, nhưng vẫn duy trì được sợi dây liên hệ (bằng mắt) giữa mẹ và trẻ thông qua một tấm kính lớn trên bức tường thông giữa phòng mẹ và trẻ.

-Đây cũng là một dạng phòng VIP với tiêu chuẩn cao nên ngoài những thành phần cơ bản, phòng còn được trang bị những vật dụng, những yếu tố nhằm tạo nên tính sang trọng và tiện nghi cao.

II-Các thành phần cụ thể:

1>Phòng vệ sinh:

-Toàn bộ các thiết bị vệ sinh đều là dạng treo để thuận tiện cho nhân viên phục vụ làm vệ sinh.

-Bố trí các tay vịn hợp lí để hỗ trợ bệnh nhân khi di chuyển

-Gạch lát sàn màu xanh nhạt loại không trơn, tường xanh nhạt, gạch viền cam nâu tạo điểm nhấn.

2>Phòng dưỡng nhi:

            -Bố trí các thiết bị cần thiết thuận tiện cho sự chăm sóc của nhân viên y tế (nôi trẻ, bàn chăm sóc trẻ, bàn kiểm tra sức khỏe, thiết bị sưởi ấm…)

            -Tường màu trắng, xanh, trang trí bằng các hình vẽ nhẹ nhàng, sinh động

3>Phòng sản phụ:

-Đảm bảo các thành phần cơ bản: giường bệnh nhân, bàn ăn chuyên dùng, bộ bàn ghế dành cho thân nhân đến thăm, ghế đẩu cho bác sĩ thăm bệnh, các loại đèn, nút bấm chuông gọi y tá, đèn đọc sách, ổ cắm ôxy, máy hút chân không, tủ quần áo, đồ dùng …

-Trong phòng trang trí một vài cây xanh, tranh ảnh phong cảnh với màu sắc nhẹ nhàng và hài hoà, có các kệ tủ, bàn được thiết kế đặc biệt, lấy ý tưởng từ những đường cong và hình ảnh “mẹ tròn con vuông”, để bệnh nhân đặt các hình ảnh, vật dụng cá nhân tạo cảm giác thoải mái gần gũi như ở nhà.

 



  • Tiêu chí duyệt nhận xét
    • Tối thiểu 30 từ, viết bằng tiếng Việt chuẩn, có dấu.
    • Nội dung là duy nhất và do chính người gửi nhận xét viết.
    • Hữu ích đối với người đọc: nêu rõ điểm tốt/chưa tốt của đồ án, tài liệu
    • Không mang tính quảng cáo, kêu gọi tải đồ án một cách không cần thiết.

THÔNG TIN LIÊN HỆ

doantotnghiep.vn@gmail.com

Gửi thắc mắc yêu cầu qua mail

094.640.2200

Hotline hỗ trợ thanh toán 24/24
Hỏi đáp, hướng dẫn